[Phong tục tập quán] Ý nghĩa và nguồn gốc Tết Hàn Thực, sự khác nhau ở Việt Nam và Trung Quốc

    0
    4729

    [Phong tục tập quán] Ý nghĩa và nguồn gốc Tết Hàn Thực, sự khác nhau ở Việt Nam và Trung Quốc

    Tết Hàn thực

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
     

    Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”. Ngày tết truyền thống này xuất hiện tại một số tỉnh của Trung Quốc, miền bắc Việt Nam và một số cộng đồng người gốc Hoa trên thế giới.

    Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân, chứ ít người biết đến hai chữ “Hàn Thực” gắn với một điển tích ở Trung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc.

    Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm).

    Ở Việt Nam cũng theo tục ấy và ăn Tết Hàn Thực ngày mồng 3 tháng 3. Tuy nhiên, người ta chỉ làm bánh trôi hay bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng chỉ cúng gia tiên, và có ít liên hệ đến Giới Tử Thôi và những kiêng kỵ khác.

    寒食节

    维基百科,自由的百科全书
     
     

    寒食节亦稱禁煙節冷節百五節,通常是冬至後第105日。与清明节日期相近,在清明节前一或二日。清初汤若望历法改革之后,清明与冬至之间的间隔缩短,为了维持寒食节在前面节前一、两日的风俗,民间将寒食节定在清明节一日之前。现代24节气的定法沿袭汤氏,因此清明节就在寒食节次日。

    目录

    • 1. 由來
      • 1.1. 考証
      • 1.2. 演變
    • 2. 注釋
    • 3. 參考文獻

    由來

    一般認為寒食節是為了紀念介之推。相传春秋時期晋公子重耳离开晋国,流亡十九年。一次重耳饿昏,介之推割下自己大腿肉烤熟给他吃,重耳得以保住性命。重耳很感动。后来重耳回到晋国,回忆起旧事,想封赏介之推,而介之推已经和母亲到山西的绵山隐居。晋文公派人上山搜索,遍寻不到,便下令放火烧山,想以此逼出介之推,但最后發現介之推母子抱著槐樹被燒死。重耳十分后悔,便规定每年此时不得生火,一律吃冷食,称为寒食节,以纪念介之推。[1]盧象有《寒食》詩,“子推言避世,山火遂焚身。四海同寒食,千古為一人。”直到今天,山西省介休市当地居民仍然对此深有记忆,实际节日这三天已没有吃寒食的活动,但晚饭仍然有不生火做饭的习俗,一般晚饭会喝开水,而不是平时喝的各种麵湯。

    考証

    但後人多所考証,寒食节禁火习俗的起源与介子推無關。介子推割股的史實也存在争议。[2]現今學界認為應是季春時要換新火[3]

    寒食节的真正起源,是源于古代的钻木、求新火之制。古人因季节不同,用不同的树木钻火,有改季改火之俗。[4]而每次改火之后,就要换取新火。新火未至,就禁止人们生火,这在当时是件大事。寒食节习俗,有掃墓、郊游、斗鸡子、荡秋千、打毯、牵钩(拔河)等。

    演變

    如今寒食在中原已經不多見,但在浙江和福建仍保持「清明節食寒食」之傳統,如食潤餅卷。由於年代久遠,「寒食」節日傳統已融入「清明節」傳統內。例如浙江省龍游縣仍保持食用「寒食」之傳統,現稱之為「清明餜」:以糯米粉做皮,有「(如意)餃子」形狀,也有像月餅一樣壓模的。一般有白色和青色兩種,取「清明」同音:白色為糯米麵團原色,青色則是糯米麵團裡加了艾葉草。蒸熟後的「清明餜」清香糍糯的外皮加上裡面包的各色餡料,可鹹可甜。

    中國最早的春祭在寒食節,後來改為在清明節。目前已很難考證寒食節是在甚麼時候被清明節取代,只知道唐朝仍保留有寒食的習慣。現在華北部分地區仍有寒食節掃墓祭祖的風俗。韓國仍保留在寒食節進行春祭的傳統。

    注釋

    1. 跳转^ 《后汉书·周举传》載:“太原一郡旧俗以介之推焚骸,有龙忌之禁,至其亡月咸言神灵不乐举火,由是士民每冬中辄一月寒食,莫敢烟爨。”
    2. 跳转^ 介子推割股的故事不见于《左传》和《史记》,寒食节起源於纪念介子推的说法最早见于桓谭《新论》,洪迈在《容斋随笔》有考證。
    3. 跳转^ 隋杜公瞻注《荆楚岁时记》:“《周礼·秋官·司烜氏》:‘仲春以木铎修火禁于国中。’注曰:‘为季春将出火也。’今寒食准节气是仲春之末,清明是三月之初,然则禁火盖周之旧制也。”
    4. 跳转^ 李涪《刊误》的“火”条:“《论语》曰:‘钻燧改火。’春榆夏枣秋柞冬槐,则是四时皆改其火。自秦以降,渐至简易,唯以春是一岁之首,止一钻燧。而适当改火之时,是为寒食节之后。既曰就新,即去其旧。今人持新火曰‘勿与旧火相见’,即其事也。”

    參考文獻

    • 藝文類聚/卷四
    • 晉 陸翙 鄴中記
    • 北魏贾思勰《齊民要術》
    • 南朝梁 宗懔 荊楚歲時記
    • 唐 杜佑 通典/卷121
    • 宋 東京夢華錄/卷七
    • 宋 洪邁 容齋四筆/卷四
    • 南宋 陳元靚 事林廣記/前集/卷二
    • 元 費著 歲華紀麗譜
    • 明 錢希言 戲瑕
    • 明 顧炎武 日知錄/卷二五
    • 三十六孝故事