Thành ngữ Trung Quốc: Đối Ngưu Đàn Cầm – 对牛弹琴 (Duìniútánqín) – Đàn gảy tai trâu

0
1757


Loading...

Đối Ngưu Đàn Cầm – 对牛弹琴


Thành ngữ: 对牛弹琴

Phồn thể: 對牛彈琴

Loading...

Phiên âm: duì niú  tán  qín

Đồng nghĩa: Đàn gẩy tai trâu

Nghĩa đen: Gảy đàn cho trâu nghe thì trâu sẽ chẳng hiểu gì.

Ngụ ý: Nếu đối tượng tiếp nhận không hiểu gì về nội dung, lĩnh vực mà mình cần truyền bá, giảng dạy thì cả 2 phía đều phí công vô ích. Ngoài ra, câu thành ngữ này cũng chỉ việc thuyết giảng đạo lý với 1 người ngang ngạng, nói mãi không chịu nghe.

Điển cố:

Loading...

Chuyện rằng xưa có ông Công Minh Nghi là người am tường âm nhạc. Tiếng đàn của ông nổi tiếng là hay và cảm động lòng người. Một ngày trời cao gió mát, ông đang dạo chơi thì nhìn thấy con trâu đang thong dong gặm cỏ. Tức cảnh sinh tình, ông liền gẩy điệu “Thanh giác chi tao” cao nhã . Tiếng đàn của Công Minh Nghi du dương cất lên, nhưng con trâu vẫn bình thản gặm cỏ khiến ông rất bực. Sau khi quan sát, ông nhận thấy tuy trâu nghe thấy tiếng đàn của ông, nhưng vì khúc nhạc này không phù hợp với trâu khiến nó không thể cảm thụ và thưởng thức được. Biết vậy, Công Minh Nghi chuyển sang 1 khúc nhạc dân dã hơn. Con trâu nghe thấy tiếng đàn nhầm tưởng với tiếng ruồi muỗi vo ve, tiếng bê con kêu, nên dỏng tai chăm chú lắng nghe.

Đến cuối đời Đông Hán, có một người thông tuệ đạo Phật tên Mâu Dung, mỗi lần giảng dạy các đệ tử Nho Giáo, ông đều mượn các sách điển của nhà Nho để thuyết giảng đạo Phật. Các đệ tử thấy lạ bèn hỏi ông nguyên do, ông kể lại câu chuyện của Công Minh Nghi “đàn gẩy tai trâu” cho họ nghe. Ai cũng lấy làm tâm phục khẩu phục bởi thầy Mâu Dung đã tìm hiểu kỹ đối tượng để có cách giảng dạy hiệu quả nhất. Từ đó “đàn gảy tai trâu” trở thành một thành ngữ được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.

Nước đổ lá khoai, nước đổ đầu vịt: Nhiều người thường cho rằng “Đàn gẩy tai trâu” đồng nghĩa với “nước đổ lá khoai”, “nước đổ đầu vịt”. Song, ngoài ý nghĩa làm việc gì đó phí công vô ích, thì 3 thành ngữ này được sử dụng với ý nghĩa và bối cảnh khác nhau.

Ví dụ:

阿香 Hương:小蘭,你怎麼一大早就那樣愁眉苦臉的?

Này Lan, sao mới sáng sớm mà cậu trông ủ rũ vậy?

Loading...

小蘭 Lan:哎!我正在煩惱今天去聽演講後要怎麼寫報告

Ừ. Mình đang đau đầu vì hôm nay đi nghe thuyết trình xong phải viết báo cáo.

阿香 Hương:你不是很擅長寫報告?

Cậu viết báo cáo giỏi lắm mà. Sao phải lo?

小蘭 Lan:可是這場演講的內容是古典音樂。我對它完全不瞭解。聽了也只不過

Loading...

是 “對牛彈琴”,能寫出什麽來呢…

Nhưng hôm nay thuyết trình về nhạc cổ điển. Mình có hiểu gì đâu, đi nghe chắc cũng “đàn gẩy tai trâu” thôi, làm sao mà viết! …

Điển:

Giản thể: 问曰:子云:《经》如江海,其文如锦绣。何不以佛经答吾问,而复引《诗》《书》,合异为同乎?牟子曰:渴者不必须江海而饮,饥者不必待厫仓而饱。道为智者设,辩为达者通,书为晓者传,事为见者明。吾以子知其意,故引其事。若说佛经之语,谈无为之要,譬对盲者说五色,为聋者奏五音也。师旷虽巧,不能弹无弦之琴。狐貉虽熅,不能热无气之人。公明仪为牛弹《清角之操》,伏食如故。非牛不闻,不合其耳矣。转为蚊虻之声,孤犊之鸣,即掉尾奋耳,蹀躞而听。是以《诗》《书》理子耳。

Phồn thể: 問曰:子云:《經》如江海,其文如錦繡。何不以佛經答吾問,而複引《詩》《書》,合異爲同乎?牟子曰:渴者不必須江海而飲,饑者不必待厫倉而飽。道爲智者設,辯爲達者通,書爲曉者傳,事爲見者明。吾以子知其意,故引其事。若說佛經之語,談無爲之要,譬對盲者說五色,爲聾者奏五音也。師曠雖巧,不能彈無弦之琴。狐貉雖熅,不能熱無氣之人。公明儀爲牛彈《清角之操》,伏食如故。非牛不聞,不合其耳矣。轉爲蚊虻之聲,孤犢之鳴,即掉尾奮耳,蹀躞而聽。是以《詩》《書》理子耳。

Âm Hán Việt: Vấn viết: tử vân: “Kinh” như giang hải, kì văn như cẩm tú. Hà bất dĩ Phật kinh đáp ngô vấn, nhi phục dẫn “Thi”, “Thư”, hợp dị vi đồng hồ? Mâu Tử viết: Khát giả bất tất tu giang hải nhi ẩm, cơ giả bất tất đãi ngao thương nhi bão. Đạo vị trí giả thiết, biện vị đạt giả thông, thư vị hiểu giả truyền, sự vị kiến giả minh. Ngô dĩ tử tri kì ý, cố dẫn kì sự. Nhược thuyết Phật Kinh chi ngữ, đàm vô vi chi yếu, thí đối mang giả thuyết ngũ sắc, vị lũng giả tấu ngũ âm dã. Sư Khoáng tuy xảo, bất năng đàn vô huyền chi cầm. Hồ mặc tuy uẩn, bất năng nhiệt vô khí chi nhân. Công Minh Nghi vị ngưu đàn “Thanh giác chi tao”, phục thực như cố. Phi ngưu bất văn, bất hợp kì nhĩ hĩ. Chuyển vi văn manh chi thanh, cô độc chi minh, tức điếu vĩ phấn nhĩ, điệp tiệp nhi thính. Thị dĩ “Thi” “Thư” lí tử nhĩ.

Loading...

Giải nghĩa:

  • Mâu Tử牟子: Tên là Mâu Dung, tên chữ là Tử Bác, là nhà Phật học nổi tiếng cuối thời Đông Hán.
  • Ngao thương厫倉: khái kho lương thực.
  • Sư Khoáng师旷: nhạc sư nước Tấn thời Xuân Thu.
  • Hồ mặc狐貉(húmò): hồ là con cáo, mặc là con chồn. Ở đây chỉ những thứ chăn, áo được làm từ da chồn cáo.
  • Công Minh Nghi公明仪: nhạc sư có tiếng thời Xuân Thu, học trò của Khổng Tử.
  • Thanh giác chi tao清角之操: một bản nhạc rất sâu sắc.
  • Cô độc孤犊: con nghé rời khỏi mẹ.
  • Điệp tiệp蹀躞(dié xiè): đi đi lại lại chậm rãi.

Dịch:

Hỏi rằng: “Thầy nói, Kinh Phật như sông biển, văn trong đó như gấm vóc. Vì sao không dùng Kinh Phật để trả lời câu hỏi của tôi, mà lại dẫn Kinh Thi, Kinh Thư, lấy những thứ khác biệt đó đánh đồng vào đây?”

Mâu Tử nói: “Kẻ khát không cần phải uống cả sông biển, kẻ đói không cần phải ăn cả kho lương. Đạo đặt ra cho kẻ trí, lời giảng giải cho kẻ đạt, sách truyền lại cho kẻ hiểu, việc nói rõ cho kẻ thấy. Ta thấy người biết ý đó, nên mới nói chuyện đó. Chứ nếu nói lời trong Kinh Phật, bàn đạo lí của vô vi, thì như nói màu sắc cho người mù, tấu âm nhạc cho người điếc. Sư Khoáng tuy giỏi, cũng không thể đánh đàn không dây. Hồ mặc tuy ấm, không thể làm nóng người đã tắt khí. Công Minh Nghi đánh bản đàn “Thanh giác chi cao” cho trâu nghe, trâu vẫn cuối xuống ăn cỏ như thường. Không phải vì trâu không nghe thấy, mà vì âm nhạc không thể hợp với tai trâu. Đổi sang tiếng vo ve của ruồi muỗi, tiếng kêu của con nghé lạc, thì lập tức vẫy đuôi nghểnh tai, rồi đi lại mà nghe. Nên ta lấy Kinh Thi, Kinh Thư để nói rõ cái lí cho các vị trước.


Danh sách ngẫu nhiên thành viên Kenh7.vn Group

Loading...

[show-team layout=’pager’ style=’img-square,img-white-border,text-left,thumbs-left,img-above’ display=’photo,website,position,social,freehtml,location,telephone,smallicons,name,enhance-filter’]